Trang nhất
 
 
Thông tin-Sự kiện
 
 
Kỹ Thuật Chăn Nuôi
 
 
Thông Tin Chăn Nuôi
 
 
Gương Mặt
 
 
Thông Tin Thị Trường
 
 
Hỏi - Đáp
 
 
Thư Giãn
 
 
Rao Vặt
 
Kỹ Thuật Chăn Nuôi
> Thú Y
14/5/2019 14:07:12
Ngành gia cầm thế giới vẫn phải đối mặt với bệnh viêm ruột hoại tử (necrotic enteritis)
Viêm ruột hoại tử – Necrotic enteritis (NE) vẫn là một thách thức lớn trong mô hình chăn nuôi gà thịt không sử dụng kháng sinh và phòng bệnh, ở đây có nghĩa là hoàn toàn loại bỏ các yếu tố nguy cơ và thực hiện nghiêm ngặt quy trình kiểm soát bệnh cầu trùng, các diễn giả đã phát biểu như vậy tại Hội thảo quốc tế về bệnh viêm ruột hoại tử lần thứ hai.

Trong cuộc khảo sát của các bác sĩ thú y chuyên ngành gia cầm về những căn bệnh quan trọng tại Hoa Kỳ năm 2016, viêm ruột hoại tử xếp thứ hai sau bệnh cầu trùng về “mức độ quan trọng”, bác sĩ thú y  John Smith, Alectryon LLC, một chuyên viên tư vấn về gia cầm tại Baldwin, Georgia đã phát biểu.

Những con gà được nuôi không có kháng sinh trong thức ăn hiện nay đã chiếm khoảng 45% sản lượng  của ngành gà thịt Hoa Kỳ và viêm ruột hoại tử đã gây tổn thất cho ngành này khoản 6 tỷ đô la hàng năm – “mức thuế” dường như sẽ càng tăng lên, Smith đã chia sẻ tại hội nghị NE, diễn ra trước sự kiện này tại Denver, Colorado, Mỹ.

“Định lượng” vấn đề

Nhiều diễn giả cùng nhấn mạnh rằng NE ở gia cầm gây ra do vi khuẩn Clostridium perfringens (CP), là mầm bệnh bền bỉ và khó loại bỏ trong trang trại gà thịt.

Tiến sĩ, Bác sĩ thú y Dan Karunakaran, Arm & Hammer, nói rằng theo một khảo sát do ông tiến hành đã cho thấy sự gia tăng mức độ của vi khuẩn ở gà thịt và gà tây từ năm 2014 đến năm 2017, điều được ông lưu ý là có liên quan đến xu hướng chăn nuôi không kháng sinh với tỷ lệ tăng từ 4% năm 2013 lên đến 40% vào năm 2017.

Kết quả của khảo sát, bao gồm 20 tổ hợp gà thịt và 25 tổ hợp gà tây, chứng minh rằng tỷ lệ mắc bệnh và mức độ nghiêm trọng của NE có liên quan đến việc ký sinh trùng Eimeria – gây ra bệnh cầu trùng. Ngay cả những con gà khỏe mạnh cũng có mức CP thấp, Karunakaran nói.

Ở gà thịt, mức độ CP cao nhất trong giai đoạn 3 tuần tuổi, trong khi ở gà tây CP tăng vọt khi chúng đạt 10 tuần tuổi, ông báo cáo.

Tiến sĩ Filip van Immerseel từ Đại học Ghent, Bỉ, đã báo cáo về một cuộc khảo sát trên toàn thế giới mà ông đã tiến hành về tỷ lệ mắc bệnh NE, rơi vào khoảng  6% đến 7%. Tuy nhiên, ông nói rằng nguồn dữ liệu tốt về NE trên toàn thế giới vẫn còn thiếu, các định nghĩa về NE khác nhau giữa các vùng và tỷ lệ lưu hành thay đổi theo từng vùng.

Châu Á có tỷ lệ NE cao nhất, ông báo cáo, mặc dù ông không đưa ra con số cụ thể. Ở Bỉ, 22% đến 31% đàn gà đẻ hậu bị có NE, ông nói.

Các yếu tố nguy cơ 

Nhiều diễn giả nhấn mạnh về tầm quan trọng của những yếu tố nguy cơ cho việc tăng sinh CP và NE có cơ hội bùng phát.

Van Immerseel chỉ ra rằng thức ăn nhiễm cầu trùng hay độc tố nấm mốc, khẩu phần đạm cao, suy giảm miễn dịch và tổn thương ruột là những yếu tố chính liên quan đến phát triển của NE. Nền tảng của việc kiểm soát NE đó chính là ngăn ngừa những yếu tố này và bảo vệ lớp niêm mạc ruột, ông nói. Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm mật độ chăn nuôi và ẩm độ quá cao. 

Làm rõ thêm mối liên hệ giữa bệnh cầu trùng và NE, Mark Jenkins, thuộc Phòng thí nghiệm bệnh ký sinh trùng động vật, thuộc Cục nghiên cứu nông nghiệp (ARS), trực thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), cho biết rằng E. maxima và các Eimeria khác đã được tìm thấy ở 35 trên 60 nhà trại (trước khi nhập gà con) được kiểm tra trong một nghiên cứu.

Việc phát hiện noãn nang cầu trùng trước khi nhập có nghĩa là gà con cần được bảo vệ ngay lập tức. Trong các chương trình chủng ngừa bệnh cầu trùng cho gà con, thường là vào 1 ngày tuổi, điều quan trọng là phải đảm bảo 100% gà con ăn đủ các noãn bào có trong vắc-xin cần thiết để kích thích phản ứng miễn dịch đầu tiên, Jenkins nói. Nếu không, gà dễ bị nhiễm trùng.

Tiến sĩ Greg Mathis, Chủ tịch Nghiên cứu Gia cầm Nam Athens, Georgia, và được công nhận trên toàn thế giới về chuyên môn về bệnh cầu trùng của mình đã giải thích rằng E. maxima là loại cầu trùng liên quan đến NE nhiều nhất, do nó gây tổn thương ruột. Không phải do gà ăn quá nhiều noãn nang của cầu trùng, mà bởi vì khả năng gây bệnh của E. maxima, ông nói thêm.


Khả năng chống chịu của Clostridium

Tiến sĩ, Bác sĩ thú y Marie Archambault, Đại học Montreal nói rằng, hầu hết các mẫu CP phân lập ở người và động vật đều có khả năng tạo ra màng sinh học (biofilm). Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, bà đã phát hiện màng sinh học bảo vệ CP tránh khỏi tác động của kháng sinh và hầu hết các chất diệt khuẩn được sử dụng trong trang trại và môi trường tại các nhà máy chế biến thực phẩm. 

Audrey Charlebois, cũng đến từ trường Đại học Montreal, báo cáo về một nghiên cứu tiến hành trên trang trại trong 3 năm, bào tử của CP và màng sinh học rất bền, góp phần cho sự ô nhiễm mầm bệnh của môi trường mặc dù đã thực hiện sát trùng.  

Vai trò của độc tố NetB 

Có nhiều ý kiến khác nhau về vai trò của độc tố này trong sự phát triển của NE. NetB là độc tố do một số chủng CP sản xuất, gây ra bệnh viêm ruột hoại tử. 

Dữ liệu từ năm 2017 được trình bày bởi Karunakaran cho thấy gia cầm khỏe mạnh hiếm khi có NetB trong khi 100% con bị viêm ruột hoại tử lại có độc tố này. 

Tiến sĩ, Cử nhân ngành dược thú y Joan Smyth, thuộc Đại học Connecticut cho rằng, trong 40 năm, độc tố alpha được xem là “vấn đề” đi kèm với CP. Tuy nhiên, trong năm 2006, độc tố alpha bắt đầu biến đổi tại Úc. Năm 2008, độc tố NetB được báo cáo tìm thấy tại nước này và trong năm 2009, NetB được tìm thấy ở những chủng phân lập không thuộc nước Úc. 

Tiến sĩ Neha Mishra, cũng thuộc trường Đại học Connecticut, cũng có ý kiến tương tự về vai trò của NetB như là nguyên nhân chính gây ra NE. Bà cho biết, có những ca những con gia cầm bị bệnh có cả 2 loại độc tố: alpha và NetB, hơn nữa không phải chủng vi khuẩn sản xuất NetB nào cũng gây bệnh.

Phòng ngừa và kiểm soát 

Bác sĩ thú y Steve Davis, CEO của Trung tâm nghiên cứu chất lượng Colorado nói rằng, để phòng ngừa CP, gà con cần sớm tiếp xúc với mầm bệnh. Trong nhiều nghiên cứu, ông đã nhận ra rằng khó nổ ra dịch NE hơn ở những đàn gà được nuôi ở chất độn chuồng đã qua sử dụng so với chất độn chuồng mới.

Trong khi những con gà được nuôi với chất độn chuồng sạch sẽ tăng trưởng tốt hơn trước khi bị thử thách cường độc với CP so với những con sống trên nền lót với chất độn chuồng đã qua sử dụng, thì tỷ lệ chết (ở đàn gà nuôi trên nền “sạch”) cao hơn đáng kể ngay khi bắt đầu thử thách cường độc. Những con gia cầm nuôi trên nền “bẩn” (vật liệu lót đã qua sử dụng) không tăng trưởng tốt như đàn gà nuôi trên nền “sạch”, nhưng khi bị thử thách cường độc thì mức độ nhiêm trọng của bệnh NE thấp hơn.  

Lời khuyên thiết thực về cách đối phó với NE trong các hệ thống sản xuất không kháng sinh đến từ Tim Cummings, Bác sĩ thú y dịch vụ kỹ thuật từ Zoetis, người đã làm việc nhiều với các nhà sản xuất gia cầm. Ông nhấn mạnh rằng điều quan trọng là không cho rằng gà bị NE và chẩn đoán được xác định bằng mổ khám tử.

Chìa khóa để chăn nuôi không kháng sinh thành công bắt đầu từ con giống và tất cả các giai đoạn trong chăn nuôi gà thịt, ông giải thích. Có vô số chi tiết cần nhấn mạnh, nhưng các chương trình tiêm phòng cho gà mẹ cần phải được tăng cường và quản lý đúng cách, cách xử lý trứng đẻ trên sàn và tiêu chuẩn đóng gói trứng và các nỗ lực vệ sinh nhà máy ấp cần được đánh giá lại, thường đòi hỏi nhiều nhân lực hơn và nâng cấp thiết bị.

Quản lý tăng trưởng cũng cần được lưu ý, đặc biệt ở một số vấn đề chính – tăng thời gian chuồng trống (giữa 2 lứa); giảm mật độ chăn nuôi nếu có thể; chủng ngừa vắc-xin phòng bệnh cầu trùng đúng cách để tối ưu hóa sự hấp thu; giảm thiểu độ ẩm của chất độn chuồng; giữ ấm cho gà bố mẹ; điều chỉnh dinh dưỡng; và giữ mức thức ăn ăn vào của gà ổn định, đặc biệt là trong khoảng hở miễn dịch của NE từ 2 đến 3 tuần tuổi, ông nói.

Khi chuyển từ sử dụng kháng sinh trong thức ăn, vốn đã rất hiệu quả trong việc kiểm soát NE, sang chương trình không kháng sinh, hệ vi sinh đường ruột sẽ điều chỉnh khá nhanh với những thay đổi này; tuy nhiên, có thể sẽ cần một vài lứa gia cầm để chuyển đổi hệ vi sinh vật trên chất độn chuồng đã qua  sử dụng ở Mỹ. Vật liệu lót chuồng mới là một yếu tố nguy cơ gia tăng bệnh NE, Cummings nhấn mạnh.

Thuốc thay thế kháng sinh

Một số diễn giả tại hội thảo tập trung vào các lựa chọn thay thế kháng sinh để ngăn ngừa NE bao gồm men vi sinh, prebiotic, butyrate, khoáng chất và tinh dầu.

Van Immerseel đã tóm lược về các giải pháp thay thế kháng sinh bằng lời phát biểu: “Thành phần thức ăn và khả năng tiêu hóa là rất quan trọng trong phòng ngừa NE, nhưng khi quyết định sử dụng sản phẩm thay thế nào, các nhà chăn nuôi cần tiến hành một vài thử nghiệm để xác định xem chúng có hiệu quả ổn định hay không”.





Các tin khác :

Công ty Kiến Thức Chăn Nuôi Hàn Việt
Số 6, Hưng Thái 1, P. Tân Phong, Q.7, Tp.HCM
ĐT: (08) 5410. 3615 - Fax: (08) 5410 3573 - Email: heo@heo.com.vn
©Copyright 2015 by Công ty Kiến Thức Chăn Nuôi Hàn Việt
®Công ty Kiến Thức Chăn Nuôi Hàn Việt giữ bản quyền nội dung trên website này
Số lượt truy cập: stats counter